Nhà trường phải luôn luôn có chủ trương tạo cho học trò một cá tính cân đối chớ không nên biến chúng thành một nhà chuyên môn "

Ngày 24 tháng 09 năm 2018

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Tài nguyên » Bài viết chuyên môn

Môn Văn

Cập nhật lúc : 07:09 18/10/2012  

Bình giảng bài thơ

Bài viết đã được đăng trên tạp chí GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Thừa Thiên Huế số khai giảng năm học 2012 - 2013

                                                   GÓP LỜI BÌNH THƠ

 

                                                           Ngô Vưu

                                              Trường THPT Chuyên Quốc Học

 

                   VỚI CON

                                                         

Con ơi con thức dậy giữa ngày thường
Nghe chim hót đừng nghe mê mải quá
Qua đường đất đến con đường sỏi đá
Cha e con đến lớp muộn giờ.

Con ơi con nàng Bạch Tuyết trong mơ
Không thể nào yêu con thay mẹ được
Và vì thế, nếu khuy áo con bị đứt
Thì nói lên để mẹ khâu cho.

Và con ơi trên ấy ngân hà
Có thể rồi con sẽ lên đến được
Nhưng đêm nay thì con cần phải học
Bốn phép tính cộng trừ hay đọc một trang thơ.

Con ơi con, nếu thầy giáo dạy con
Có ánh sáng bảy màu trong ánh sáng
Thì con hỡi hãy khêu cho rạng
Ngọn bấc đèn con hãy vặn lên to.

Con ơi con, trái đất thì tròn
Mặt trăng sáng cũng tròn như đĩa mật
Tất cả đấy đều là sự thật
Nhưng cái bánh đa tròn, điều đó thật hơn !

Mẹ hát lời cây lúa để ru con
Cha cày đất để làm nên hạt gạo
Chú bộ đội ngồi trên mâm pháo
Bác công nhân quai búa, quạt lò.

Vì thế nên, lời cha dặn dò
Cũng chưa hẳn đã là điều đúng nhất
Cha mong con lớn lên chân thật
Yêu mọi người như cha đã yêu con.

                                                Thạch Qùy

          Nhà thơ Thạch Qùy tên Khai sinh là Vương Đình Huấn, sinh năm 1941 tại Đô Lương, Nghệ An. Tốt nghiệp khoa Toán trường Đại học Sư phạm Vinh nhưng Thạch Qùy được nhiều người biết đến là nhà thơ có cá tính và giàu “chất Nghệ”; “… rất nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin và chóng vánh tìm ra ngay bản chất đối tượng. Anh làm thơ hoàn toàn bằng mẫn cảm thiên phú.” (Thái Doãn Hiếu, Thi nhân Việt Nam hiện đại)

           Với con được đăng lần đầu trên tuần báo Văn Nghệ năm 1980, trang dành cho thiếu nhi. Bài thơ được bạn đọc đón nhận rất nồng nhiệt và từ đó Thạch Qùy trở nên nổi tiếng. Nhưng cũng chính đứa con tinh thần ấy đã làm cho tác giả một phen phải lao đao lận đận. Nhà thơ kể lại : “ Thời ấy, đất nước vừa thoát ra từ những cuộc chiến tranh, nhiều người cứ thấy rằng chúng ta đã thắng lớn trong sự nghiệp giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc nên lí tưởng hóa cuộc sống, họ cho rằng sau mười lăm, hai mươi năm dân mình sẽ được sống trên một đất nước thiên đường… Hồi đó, người nông dân thu hoạch bình quân mỗi ngày chưa được một lạng thóc, trong khi họ phải ăn một ngày ít nhất hai lạng gạo. Công nhân, trí thức hầu hết ăn hạt bo bo; đời sống, sinh hoạt thiếu thốn, đến nỗi chín chị em phụ nữ ngồi bình bầu để được mua một cái quần phíp; mười cán bộ công nhân viên phải bốc thăm chia nhau một cái xích xe đạp… Bài thơ “Với con” là nói với con cái trong nhà nhưng thực ra là muốn tâm sự với tất cả mọi người về hiện thực lúc đó.” (Dẫn theo Võ Minh Châu, Tiền Phong Online ngày 11/9/ 2008)

          Trong bối cảnh xã hội ấy, Với con gây xôn xao dư luận, giới lãnh đạo văn nghệ cũng rất quan tâm và bày tỏ nhiều thái độ khác nhau về bài thơ này. Có người khen Thạch Qùy dũng cảm, bằng những lời thơ chân thành, khôn khéo đã dám viết lên sự thật đời sống, phê phán hiện tượng tô hồng hiện thực. Có người cho rằng bài thơ có vấn đề, tác giả mượn chuyện dạy con để đả kích việc thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông. Nhà thơ lâm vào hoàn cảnh nan giải, bị nghi ngờ về thái độ chính trị, bị cô lập, đến nỗi phải xin nghỉ việc ở cơ quan (Hội Văn học Nghệ thuật Nghệ An). Mười năm sau, trong không khí đổi mới, phê bình văn học không còn khắt khe, máy móc một chiều như trước, bài thơ được xem là tiếng pháo hiệu có ý nghĩa tiên phong, mở đường cho cả một trào lưu hiện thực trên tờ tuần báo Văn Nghệ và các tạp chí văn học những năm đầu của thập niên chín mươi, thế kỉ hai mươi.  

          Một ý thơ, bài thơ hay bao giờ cũng có tính đa nghĩa, đó là đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ ca. Hơn thế, trong Với con từ nghĩa tường minh đến nghĩa hàm ẩn có rất nhiều khoảng trống, dễ tạo những xâu chuỗi liên tưởng thú vị về đời sống xã hội. Nhưng điều đó cũng có thể dẫn đến sự suy diễn thái quá ý nghĩa của hình tượng và chủ đề tác phẩm. Suốt bài thơ, nghĩa sự việc bằng câu chữ đơn giản là lời tâm sự, nhắc nhở con cái của các bậc làm cha làm mẹ quanh chuyện học hành, sinh hoạt, tình cảm gia đình. Nhưng cũng có thể là bản đúc kết chiêm nghiệm, liên tưởng hợp lí về những hiện tượng hoặc quy luật đúng sai của đời sống mà trong một cơ chế xã hội nhất định không dễ được nói ra.

          Đoạn đầu của bài thơ hình thức không mới nhưng khá lạ trong ý tưởng.

Con ơi con thức dậy giữa ngày thường
Nghe chim hót đừng nghe mê mải quá
Qua đường đất đến con đường sỏi đá
Cha e con đến lớp muộn giờ.

          Có thể diễn giải về nội dung của đoạn thơ bằng ngôn ngữ giao tiếp như sau: Giữa ngày thường, con nhé, đừng quá mê mải khi nghe chim hót. Đường đến trường xa lắm. Trong làng, đường đất, hầm hố thời chiến tranh đã che lấp cỏ dại, dễ bị trượt ngã, con đừng đuổi bướm bắt ve; ra đến đường cái thì lô nhô sỏi đá, đừng quá vội vàng mà vấp phải, rồi bong móng sướt da… Nhưng con cũng không được đến lớp muộn giờ.

           Lời khuyên của người cha như thế là chu đáo, vừa nhắc nhở kỉ luật, vừa lo lắng thương yêu. Làm sao ngăn cản được trẻ con say mê với tiếng chim hót, hoặc cấm những trò chơi đuổi bướm hái hoa lúc đến trường? Nhà thơ Giang Nam cũng đã từng kể những kỉ niệm đáng yêu (và cũng đáng bị đánh đòn) về tuổi thơ ham chơi, sợ học.

          Nhớ những ngày trốn học, đuổi bướm cạnh cầu ao

Mẹ bắt được, chưa đánh roi nào, đã khóc.  

 Đỗ Trung Quân cũng tả con đường quê hương đẹp và lãng mạn đến bất ngờ bởi tình yêu cánh bướm của tuổi thơ.

          Quê hương là đường đi học

          Con về rợp bướm vàng bay.

 Thạch Qùy thì tỉnh táo hơn trong tâm lí của người cha: con vẫn có quyền được nghe tiếng chim hót, chỉ có điều đừng nghe mê mải quá, bởi cha sợ rằng con sẽ đến lớp muộn giờ. Thần thái của cả đoạn thơ là sự kết hợp vừa phải, đúng mức giữa lí trí và tình cảm. Chỉ bằng một chi tiết của đời thường, tác giả đã viết được câu thơ chân thành, ấn tượng, có tầm khái quát và sẽ sống mãi với thời gian: nghe chim hót đừng nghe mê mải quá. Nghĩa tường minh thiên về tình cảm, nghĩa ẩn dụ thiên về lí trí. Lời thơ, hình ảnh giản dị: nghe chim hót, con đường sỏi đá, đến lớp muộn giờ… nhưng đã tạo nên những liên tưởng tự nhiên, xác định được cả một thái độ sống cần thiết. Phải có sự phân tích, đánh giá tỉnh táo, khoa học trước những hiện tượng đời sống, phải biết tôn trọng những quy luật khách quan khắc nghiệt của sự phát triển xã hội.

 Khổ thơ thứ hai có một so sánh khá bất ngờ.

Con ơi con nàng Bạch Tuyết trong mơ
Không thể nào yêu con thay mẹ được
Và vì thế, nếu khuy áo con bị đứt
Thì nói lên để mẹ khâu cho.

                        Trẻ con thời nào cũng say mê cổ tích và thường lấy nhân vật cổ tích làm thần tượng. Nhưng nàng Bạch Tuyết có đẹp, có tốt đến bao nhiêu cũng chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng và mơ ước. Con hãy biết đến tình yêu bao la có thực của mẹ, người đang ở bên cạnh nuôi dưỡng chăm sóc con khôn lớn từng ngày. Nhà thơ khéo chọn chi tiết, nếu khuy áo con bị đứt / Thì nói lên để  mẹ khâu cho. Một chi tiết nhỏ của đời thường nhưng đã gợi được biết bao tình thương yêu từ sự chăm sóc tỉ mỉ, chu đáo của người mẹ. Từ việc nhỏ nhặt như khâu chiếc khuy áo đến việc lớn là ăn học, sức khỏe hằng ngày cho con cái là nỗi lo toan thường trực của những người làm cha làm mẹ. Hình tượng thơ còn là một ẩn dụ nghệ thuật gợi nhiều liên tưởng. Thời ấy người ta thường ca ngợi chủ nghĩa tập thể, nói nhiều về xã hội tốt đẹp tương lai mà không thấy được những việc cần làm trước mắt để đáp ứng nhu cầu thiết yếu hằng ngày của từng cá nhân con người. Hình ảnh thế giới thần tiên của nàng Bạch Tuyết trong mơ còn gợi suy nghĩ về những mối quan hệ lớn hơn, hình như tác giả cũng đã trực giác thấy được các nàng Bạch Tuyết tóc vàng, tóc đen ngày xưa ấy chỉ biết yêu mình hoặc có biểu hiện giúp đỡ người khác cũng chỉ là những ràng buộc, không thực lòng.

           Khổ thơ thứ năm là một so sánh lạ, vừa tương đồng vừa tương phản với những trải nghiệm, triết lí sâu sắc. 

Con ơi con, trái đất thì tròn
Mặt trăng sáng cũng tròn như đĩa mật
Tất cả đấy đều là sự thật
Nhưng cái bánh đa tròn, điều đó thật hơn !

          Dạy cho con trẻ hiểu được thế nào là sự thật, hoặc phải biết ứng xử phù hợp với sự thật và sự giả dối như thế nào là điều vô cùng khó; dạy cho con trẻ biết được cái gì thiết thực, cái gì không thiết thực giữa cuộc đời thiếu thốn còn khó hơn. Trái đất tròn, mặt trăng sáng cũng tròn, điều ấy là hiển nhiên. Nhưng khi so sánh mặt trăng sáng cũng tròn như đĩa mật thì tác giả đã để lộ một mơ ước. Xưa nay, trong văn chương có hàng nghìn so sánh thú vị về trăng, phần lớn là những hình ảnh nghệ thuật gợi tả sự thơ mộng, lãng mạn, hư ảo. Nhưng trong đoạn thơ nầy, cái thực đang lấn lướt cái mộng, trăng của Thạch Qùy vừa đẹp vừa ngon; vừa vàng óng sóng sánh vừa ngọt ngào tinh khiết. Tưởng rằng so sánh ấy chỉ để thỏa mãn một chút khát khao, nhưng không, sự tưởng tượng ấy cũng chỉ là huyễn hoặc. Có một nghịch lí: nhà thơ, nghệ sĩ mà lại dạy con đừng mơ ước lãng mạn, hãy quay về với sự thật. Bởi, Đĩa mật ấy là quá xa xỉ, cũng chẳng có đâu, cái bánh đa tròn làm từ bột gạo hoặc bột sắn, món quà của người nghèo mới là niềm vui, “sự sung sướng” có thật. Hình tròn của trái đất, mặt trăng, đĩa mât là tượng trưng cho sự đủ đầy viên mãn. Cái bánh đa cũng tròn nhưng sao nó lại mỏng manh và tội nghiệp đến vậy ? Có lẽ đó là lí do làm cho bạn đọc xúc động, ưu tư cùng tác giả về những chiếc bánh đa, bánh đúc nghèo khổ của một thời. Bốn câu thơ hệ luận, so sánh theo một logic đơn giản nhưng tạo liên tưởng bất ngờ, mang ý nghĩa triết lí sâu sắc. Phải biết tìm niềm vui trong tầm tay, hạnh phúc trong  những cái có thể; mơ ước cao xa, ảo tưởng dễ rơi vào thất vọng và bi kịch. Trong tính đa nghĩa của ẩn dụ nghệ thuật, ở một góc độ khác có thể hiểu chiếc bánh đa là bánh thật, đĩa mật chỉ là bánh vẽ…

          Tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ ca là một đặc điểm quan trọng, thiếu nó thơ chỉ còn là vè hoặc văn vần, nói lối. Cách nói “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) luôn tạo được những liên tưởng thú vị. Liên tưởng càng rộng, hình tượng thơ càng hấp dẫn, lôi cuốn. Nói chuyện với bạn đọc, có lần Thạch Qùy cho rằng bài thơ Với con được viết theo lối gián cách của Brếch (văn học Đức), là viết bằng đầu, viết bằng toán. Nhưng qua những phân tích trên có thể thấy khá rõ, giá trị nghệ thuật của thi phẩm là một loạt hình tượng gợi liên tưởng chứ không phải là những lập luận kiểu như: giả thiết – kết luận, điều kiện – biện luận của logic học trừu tượng. Sự tồn tại của bài thơ Với con qua thời gian là minh chứng rõ ràng nhất cho giá trị nghệ thuật và tính nhân văn có thật của bản thân nó.

                                                                               Huế, tháng 4/ 2012

                                                                                      Ngô Vưu

 

          Sau đây là một số trích đoạn bài tập của học sinh lớp 11 Chuyên Văn trường THPT Chuyên Quốc Học viết theo gợi ý của báo Văn Học và Tuổi trẻ số tháng 7, 8, 9 năm 2011:

Con ơi con, Con ơi… từng tiếng gọi nhỏ nhẻ, tha thiết, mở đầu cho từng lời căn dặn ân cần của người cha như còn vang vọng mãi trong tâm hồn ta ngọt ngào, thấm thía. Lời thơ dung dị, mộc mạc mà cuộc chuyện trò đã để lại những ấn tượng sâu đậm về tình cha con biết mấy thiêng liêng.

             Những điều người cha muốn nhắn nhủ chỉ là bé nhỏ, giản đơn nhưng rất gần gũi, sâu sắc và vô cùng cần thiết. Bao ngày cha lặng lẽ dõi theo bước chân con, âm thầm đỡ con dậy khi con vấp ngã… Đó là lời nhắc nhở về “con đường sỏi đá” mà hằng ngày con đến trường. Nếu nghe chim hót thì đừng “nghe mê mải quá” vì “Cha e con đến lớp muộn giờ”. Đó là lời nhắc nhở về “nàng Bạch Tuyết trong mơ - Không thể nào yêu con thay mẹ được”, nên “khuy áo con bị đứt - Thì nói lên để mẹ khâu cho”. Đó là lời nhắc nhở con hãy biết miệt mài bên trang sách “Nhưng đêm nay thì con cần phải học – Bốn phép tính cộng trừ hay đọc một trang thơ”… “Con ơi hãy nhớ rằng, tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng nhất. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình thương đó.” Cùng chung suy nghĩ ấy với nhà văn Pháp Edmondo De Amixi, Thạch Quỳ đã khắc sâu bằng thơ vào tâm hồn người con và bạn đọc về tình yêu thương mênh mông của cha mẹ.

            Nếu khoa học yêu cầu cao về mức chính xác, rõ ràng, cụ thể thì nghệ thuật nói chung, văn chương nói riêng khác biệt bởi tính tương đối, đa nghĩa. “Với con” cũng nằm trong quy luật chung ấy. Đừng mải nghe chim hót, đừng mải mơ về nàng Bạch Tuyết, đừng mải ngồi yên đó ước ao chinh phục dải Ngân Hà.

          “Nhưng cái bánh đa tròn, điều đó thật hơn!”, đó không còn là lời nhắc nhở về những sinh hoạt thường nhật của con, mà ẩn sau đó, sau cả lớp ngôn từ bình dị ấy, là một lời dặn sâu sắc khẩn thiết láy đi láy lại trong toàn bài thơ về lối sống chân thật, luôn biết gắn mình với cuộc sống thực tại, đừng viển vông, mơ tưởng. Phải tỉnh táo khi nhìn vạn vật qua những tấm kính vạn hoa tươi đẹp, nhiều màu sắc mà không có thật. Theo đuổi những khát khao, hoài bão trong mộng tưởng nhiều lúc cũng là bi kịch. Điều đó đã được chứng thực bằng vở kịch nổi tiếng Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng. Nhà kiến trúc tài ba Vũ Như Tô mãi theo đuổi ước vọng xây được một Cửu trùng đài “tô điểm cho đất nước”, “tranh tinh xảo với hóa công” trong bối cảnh thời hậu Lê với nền kinh tế kiệt quệ, đời sống nhân dân cơ cực… Cho đến lúc bị trừng phạt, cận kề cái chết, Vũ Như Tô vẫn không hiểu được vì sao nhân dân lại căm ghét mình đến thế.” (Nguyễn Thị Thanh Hà – lớp 11 Chuyên Văn)

                 “Thạch Quỳ là nhà thơ có cái “tôi” như đá rắn, thơ ông là những suy tư, trăn trở về cuộc đời thường bằng ngôn từ giản dị, chân thành. “Với con” là một chút tâm sự riêng tư nhưng vẫn có ý nghĩa thời đại. Bài thơ được sáng tác khoảng cuối năm 1979, khi đất nước còn nhiều khó khăn và khi được in báo thì có nhiều tranh luận. Dù được đánh giá ở góc độ nào, trên hết, bài thơ vẫn sống mãi với thời gian và được mọi người đón nhận chính là nhờ vẻ đẹp chân thành, sâu sắc của một tâm hồn nghệ sĩ chân chính.

 

Con ơi con, thức dậy giữa  ngày thường
Nghe chim hót đừng nghe mê mải quá
Qua  đường đất đến con đường sỏi đá
Cha e con đến lớp muộn giờ.

 

Người cha nào cũng thương yêu con, nhưng nếu người cha là thi sĩ thì có lẽ cách thể hiện nhiều ý tứ và sâu sắc hơn. Tình cảm ấy được thổ lộ qua những lời khuyên bảo. Bằng một loạt những hình ảnh sóng đôi xen lẫn vào nhau giữa cái ảo và cái thật, giữa lý thuyết tươi đẹp và thực tại khó khăn, giúp người con nhận thức được đâu là cái mơ ước và đâu là thực tiễn. Từng khổ thơ như từng đợt sóng, từng luồng cảm xúc, suy tư thao thức cùng tâm hồn bạn đọc.

 Nhà thơ không chỉ nói với con mà còn đang nói với chính mình. Trong hoàn cảnh nầy, thi sĩ không chỉ biết lãng mạn “ru với gió / mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” như Xuân Diệu trước Cách mạng mà còn phải biết vị nhân sinh, biết “sống cùng với nhân dân của tôi” như Xuân Diệu sau Cách mạng. Nghệ thuật phải bắt rễ từ cuộc đời chứ không phải là “ánh trăng lừa dối” (Nam Cao), nghệ thuật không phải là những lời lẽ hoa mĩ phát ra từ những chiếc loa phóng thanh, mà phải là cuộc sống đang tồn tại, đang diễn ra hằng ngày:

Mẹ hát lời cây lúa ru con
Cha cày đất làm nên hạt gạo
Chú bộ đội ngồi trên mâm pháo
Bác công nhân quai búa, quạt lò.

            Kết thúc bài thơ là một mơ ước rất đời thường, nhưng cũng là khát vọng muôn đời của người nghệ sĩ chân chính “cha mong con lớn lên chân thật”. Phải biết sống chân thật, đó là thông điệp mà bài thơ đem đến cho cuộc đời. Và ở bài thơ “Tôi”, Thạch Qùy cũng đã khẳng định điều ấy.

          Không bé nhỏ tầm thường, không vĩ đại

Có thể vứt đi trong xó tối u buồn

          Có thể đứng trên đôi chân vững chãi

Tôi một mình, tôi lớp lớp triều dâng.

                                         (Lê Thị Minh Bảo – lớp 11 Chuyên Văn) 

 

                               ………………………………………….