In trang

LẬP LUẬN SO SÁNH TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
Cập nhật lúc : 16:51 23/03/2013

                                         SO SÁNH TRONG NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

 

                                                                                                             Ngô Vưu

                                                                                           Trường THPT Chuyên Quốc Học

 

           Muốn nhận biết rõ hơn đặc điểm và giá trị của một sự vật, hiện tượng người ta thường dùng phép so sánh. Trong phạm vi nghị luận văn học, so sánh là một thao tác quan trọng được sử dụng rất rộng rãi. Thông thường, lập luận so sánh trong bình luận văn học là đối chiếu hai hay nhiều tác giả, văn bản, hình tượng, chi tiết nghệ thuật… để thấy được những điểm giống và khác nhau; từ đó thấy rõ giá trị của các đối tượng được phân tích, đánh giá. So sánh để làm nổi bật những nét giống nhau gọi là so sánh tương đồng, so sánh để chỉ ra sự khác biệt gọi là so sánh tương phản.

           Để có được những phân tích, cảm nhận sâu sắc từ việc so sánh, người viết phải có nền hiểu biết rộng về văn chương, về đời sống xã hội; nhưng quan trọng hơn vẫn là khả năng của tầm liên tưởngnhạy bén phát hiện. Liên tưởng là một hoạt động tâm lí của con người, là từ sự việc nầy mà nghĩ đến sự việc kia, từ người nầy mà liên hệ đến người nọ, đôi lúc chỉ là một hoạt động có tính trực giác. Liên tưởng là nền tảng của thao tác lập luận so sánh trong bình luận văn học; nó có mục đích rất rõ ràng, đó là tạo mối liên hệ giữa các nhà văn, tác phẩm, hình tượng, chi tiết với nhau nhằm nhận ra một ý nghĩa nào đó. Có nhiều cách liên tưởng: liên tưởng tương cận, liên tưởng tương đồng, liên tưởng trái ngược.

          Trong hoạt động chuyên môn đọc văn, làm văn ở chương thình phổ thông trung học, giáo viên và học sinh thường sử dụng thao tác lập luận so sánh trong hai tường hợp. Một là, liên tưởng, so sánh để làm nổi bật ý kiến đánh giá trong quá trình phân tích, cảm nhận tác phẩm văn học; hệ thống hóa kiến thức khi bàn về một vấn đề văn học. Hai là, thực hiện theo yêu cầu, định hướng bắt buộc của đề bài tập làm văn.

          1/ So sánh để làm nổi bật, sâu sắc hơn vấn đề bàn luận

a/ Trong phạm vi tìm hiểu về tác giả

 - Có thể so sánh tác giả nầy và tác giả khác cùng thời để làm nổi bật phong cách nhà văn. Ví dụ: Hồ Xuân Hương với Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Du với Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Khuyến với Tú Xương, Xuân Diệu với Chế Lan Viên, Nam Cao với Vũ Trọng Phụng.

 - So sánh giữa các giai đoạn sáng tác để thấy được sự vận động, thay đổi về đề tài, chủ đề tư tưởng trong sự nghiệp sáng tác của một nhà văn. Ví dụ: Đánh giá về hai giai đoạn sáng tác của các tác giả Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tô Hoài trước và sau Cách mạng tháng Tám.

b/ Trong phạm vi tìm hiểu về tác phẩm

 - So sánh các tác phẩm có điểm chung về đề tài nhưng khác biệt về thời gian và không gian sáng tác để thấy được sự gặp gỡ kì lạ về tình cảm, tư tưởng của con người trong văn chương. Ví dụ:

  + Nhân vật TấmLọ Lem trong truyện cổ tích Việt Nam và truyện cổ tích phương Tây.

  + Hình tượng người nông dân trong hai tác phẩm AQ chính truyện của Lỗ Tấn và Chí Phèo của Nam Cao.

  + Hình tượng người lính kháng chiến trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu và người nghĩa binh trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.

 - So sánh sự tương đồng và khác biệt của các tác phẩm được sáng tác cùng thời, cùng đề tài để thấy được sự đa dạng, sáng tạo của các phương thức thể hiện và chiều sâu của nhận thức, tình cảm con người. Ví dụ:

  + Hiện thực và lãng mạn trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu và Việt Bắc của Trần Dần.

  + Hình tượng đất nước trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm.

  + Hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt và bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy.

  + Tình cha con trong bài thơ Nói với con của Y Phương và Với con của Thạch Qùy.

c/ Trong phạm vi một vấn đề về nhận thức, tư tưởng; một đoạn văn, đoạn thơ

- So sánh để thấy được sự khác biệt, đối lập về tư tưởng tình cảm của tác giả ngay trong một tác phẩm. Ví dụ: Mâu thuẫn tư tưởng nhà văn trong cùng một tác phẩm được bộc lộ qua tâm sự của tác giả, qua nhân vật.

            + Truyện Kiều của Nguyễn Du mang tư tưởng thiên mệnh: Cho hay muôn sự tại trời/ Trời kia đã bắt làm người có thân; nhưng cũng có lúc nhà thơ tỏ ra hoài nghi qua chiêm nghiệm của nhân vật: Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều. Thái độ của Nguyễn Du với triều đình phong kiến chủ đạo là trung thành: Trên vì nước, dưới vì nhà/ Một là đắc hiếu, hai là đắc trung; nhưng cũng có lúc tác giả ca ngợi nhân vật anh hùng Từ Hải và đã bước qua giới hạn trung quân: Chọc trời, khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.

            + Vội vàng là bài thơ tiêu biểu của Xuân Diêu thể hiện tâm trạng, thái độ rất mâu thuẫn của tác giả giữa cuộc đời sôi động: vừa thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống; vừa bi quan, chán nản, hoài nghi và cô đơn. Mở đầu bài thơ là mơ ước kì lạ, khát vọng siêu phàm muốn điều chỉnh tự nhiên, thay đổi tạo hóa để giữ gìn và tận hưởng hương sắc của cuộc đời:

                     &